Các kết quả của nghiên cứu KH&CN trên mọi lĩnh vực đã đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nhưng cũng vẫn tồn tại thực tế là, có những đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chưa đem lại hiệu quả, chậm hoặc không được ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống, hoặc bị thất bại, gây lãng phí, thất thoát kinh phí..., mà tham nhũng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN là một trong những nguyên nhân cơ bản. Qua nghiên cứu và tiếp cận dưới góc độ "quyền lực", "lợi ích" và "phạm vi, mức độ", chúng tôi nhận thấy tham nhũng trong nghiên cứu khoa học có những đặc điểm sau:
Đặc điểm về quyền lực
Tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có sự đan xen giữa quyền lực hành chính và quyền lực khoa học.
Quyền lực là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành hành vi tham nhũng. Về mặt lý thuyết, quyền lực gồm 2 loại là quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân. Trong đó, quyền lực địa vị bao gồm: quyền lực pháp lý, quyền lực khuyến khích, quyền lực liên kết và quyền lực cưỡng bức. Quyền lực cá nhân bao gồm: quyền lực chuyên môn, quyền lực thông tin và quyền lực tư vấn. Quyền lực địa vị dẫu mạnh đến đâu cũng không bao giờ là đủ mà luôn phải có quyền lực cá nhân đi kèm. Trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, quyền lực địa vị đi kèm quyền lực cá nhân thể hiện cụ thể thông qua quyền lực pháp lý (quyền lực hành chính) và quyền lực chuyên môn (quyền lực khoa học).
Quyền lực hành chính là quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong tổ chức, bộ máy hành chính của cơ quan, đơn vị. Quyền lực hành chính trong cơ quan, tổ chức nghiên cứu KH&CN do người đứng đầu tổ chức đó nắm giữ. Quyền lực hành chính phát sinh thông qua quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và được đảm bảo thực hiện chủ yếu bằng các biện pháp hành chính.
Quyền lực khoa học bao gồm 2 yếu tố cấu thành là quyền lực học thuật và chức vụ khoa học.
- Quyền lực học thuật: là một khái niệm không mới nhưng ít được đề cập tới, thường được dùng để chỉ thứ quyền lực gắn với nhân thân người có học hàm, học vị cao hơn đối với người có học hàm, học vị thấp hơn trong mối quan hệ đào tạo, nghiên cứu KH&CN. Quyền lực học thuật chưa được quy định trong hệ thống pháp luật về giáo dục hay nghiên cứu khoa học nhưng được thực tế thừa nhận. Có thể ví dụ như như sau: GS.TSKH. A và TS. B cùng được mời nhận xét, đánh giá về một vấn đề hoặc nghiên cứu cùng về một nội dung cụ thể. Hai người có thể có 2 kết luận khác nhau, nhưng thực tế thường cho thấy nhận xét của GS.TSKH. A thường được coi trọng hơn, cho dù tính chính xác của các kết luận còn phải được xem xét. Hơn thế nữa, ở Việt Nam nhiều khi người có học vị thấp hơn thường mặc nhiên thừa nhận người có học vị cao hơn là có quan điểm đúng hơn, chưa tính đến tâm lý "thầy, trò" trong mối quan hệ này.
Các chức vụ khoa học, được quy định trong hệ thống pháp luật về KH&CN. Theo Điều 36 của Luật KH&CN năm 2000 thì "chức vụ khoa học gồm có trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cấp cao…".
Theo một cách hiểu thông thường thì quyền lực được tạo nên bởi chức vụ. Về mặt ngữ nghĩa, chức vụ là danh từ thể hiện quyền hạn, nhiệm vụ tương ứng với chức. Các chức vụ khác nhau được phân biệt và gọi là chức danh, chức danh là tên gọi thể hiện quyền hạn, nhiệm vụ của chức. Điều này dẫn đến việc, nếu hiểu theo cách trên thì người có chức vụ khoa học cao sẽ có quyền hạn, nhiệm vụ cao hơn so với người có chức vụ khoa học thấp. Và nếu cùng tham gia một lĩnh vực hoặc một quan hệ cụ thể thì người có chức vụ khoa học thấp sẽ phải tuân thủ chỉ đạo của người có chức vụ khoa học cao hơn.
Thực tế hiện nay cho thấy, đối với việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN thì ngay trong nội hàm khái niệm quyền lực khoa học (quyền lực chuyên môn) cũng đã đan xen với những yếu tố của quyền lực hành chính (quyền lực pháp lý). Sự đan xen này cũng chính là điểm mâu thuẫn giữa quan hệ mệnh lệnh - phục tùng và tính độc lập, tự do trong tư duy nghiên cứu khoa học. Một trong những nguyên nhân của sự đan xen xuất phát từ hệ thống tổ chức và các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, chức vụ cá nhân nhà khoa học. Biểu hiện dễ nhận thấy nhất là về tổ chức, ở Việt Nam hiện nay các tổ chức khoa học công lập được sắp xếp tương đương với thang bậc của hệ thống các cơ quan hành chính. "Điều này không chỉ tạo ra sự khác biệt về chế độ đãi ngộ đối với những người lãnh đạo cơ quan khoa học mà còn đóng vai trò quyết định trong việc phán xét giá trị khoa học của công trình do họ thực hiện".
[1]
Ngoài sự đan xen trong bản thân khái niệm quyền lực khoa học, sự đan xen giữa quyền lực hành chính và quyền lực khoa học còn thể hiện ngay trong hành vi của chủ thể tham nhũng.
Trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, chủ thể của hành vi vừa có chức vụ quyền hạn để quyết định, vừa có cái "uy" của người có học hàm, học vị đối với một vấn đề cụ thể. Theo quy định hiện hành, các chủ thể tham gia thực hiện các nhiệm vụ KH&CN là các tổ chức (tổ chức chủ trì), cá nhân (chủ nhiệm) có đủ điều kiện và khả năng nghiên cứu khoa học như: cơ sở vật chất, nhân lực, học hàm, học vị… Tất nhiên, không phải những nhà khoa học có học hàm, học vị (tức là đã có quyền lực khoa học) đều có quyền lực hành chính, nhưng thông thường những người đứng đầu tổ chức, nắm quyền lực hành chính đều có học hàm, học vị (tức là có quyền lực khoa học). Trong những năm gần đây, xu thế này đang ngày càng trở nên phổ biến, khi các cơ quan quản lý nhà nước cũng được giao các đề tài, dự án, chương trình khoa học. Các nhiệm vụ KH&CN của các cơ quan này thường đặt mục tiêu giải quyết những vấn đề về nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý của những ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan chủ trì. Chủ nhiệm thường là người lãnh đạo cao nhất của cơ quan này. Việc giao nhiệm vụ KH&CN cho người lãnh đạo cao nhất của cơ quan hành chính nhằm tạo vị thế cho các chủ nhiệm, đồng thời với sự hiện diện của những người có tên tuổi như thế, cơ quan quản lý KH&CN phải vị nể và giao đề tài, dự án, chương trình cho các cơ quan đó.
Tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có nhiều chủ thể khác nhau nhưng loại chủ thể này thường có điều kiện thực hiện hành vi tham nhũng hơn cả. Bởi lẽ, tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, quyền lực hành chính và quyền lực khoa học có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo hành vi tham nhũng diễn ra tinh vi, dễ dàng thực hiện và khó bị phát hiện. Trong mối quan hệ giữa hai thứ quyền lực thì quyền lực hành chính đảm bảo cho hành vi tham nhũng và quyền lực khoa học biện minh, hỗ trợ cho quyền lực hành chính. Thậm chí trong nhiều trường hợp, quyền lực khoa học của những người có học hàm, học vị cao đôi khi át cả quyền lực hành chính. Hai thứ quyền lực này có thể tồn tại song song trong một chủ thể, nhưng cũng có thể tồn tại độc lập nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Đặc điểm về lợi ích
Tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN thường đạt lợi ích kép (nhiều lợi ích khác nhau).
Đối với tham nhũng nói chung, chúng ta có thể chia yếu tố vụ lợi thành 3 loại: lợi ích vật chất (tiền, vàng, nhà, đất…), quyền lực hành chính (chức vụ, quyền hạn…) và danh vị (học hàm, học vị, các hình thức khen thưởng). Mỗi loại chủ thể tham nhũng đều có những đặc điểm riêng và mục đích hướng tới những loại "lợi ích" khác nhau. Tham nhũng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là hướng tới lợi ích vật chất.
Trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, mục đích hướng tới của các chủ thể bao gồm cả ba loại "lợi ích vật chất", "quyền lực", "danh vị". Ba loại này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Hiện nay theo quy định về tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN, điều kiện để là chủ nhiệm đề tài, dự án phải là những người có học hàm, học vị nhất định (ví dụ, đối với nhiệm vụ cấp nhà nước, chủ nhiệm thường phải có học vị tiến sỹ trở lên). Việc thực hiện thành công nhiệm vụ trước sẽ là lợi thế trong việc tuyển chọn để thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo và đó cũng là điều kiện thuận lợi trong việc xét thi nâng cao học vị hoặc công nhận học hàm. Điều 36 Luật KH&CN còn quy định: “Những người có học vị tiến sỹ hoặc có công trình nghiên cứu KH&CN xuất sắc hoặc các giải thưởng cao về KH&CN được ưu tiên trong xét, bổ nhiệm vào các chức vụ khoa học cao”.
Trên thực tế, hệ quả của sự phân chia đẳng cấp hành chính trong tổ chức khoa học là những nhiệm vụ KH&CN do các cơ quan thực hiện cũng được xem xét giá trị tương đương với cấp của cơ quan đó theo cấp hành chính. Theo tiêu chuẩn phong giáo sư, phó giáo sư ở Việt Nam, nếu ứng viên thực hiện đề tài cấp nhà nước thì được tính điểm cao hơn so với khi thực hiện đề tài cấp cơ sở. Nghĩa là, việc đánh giá giá trị khoa học của đề tài được dựa theo cấp hành chính. Ngoài ra, đề tài, dự án cấp càng cao thì đồng nghĩa với việc kinh phí nghiên cứu dành cho nó càng lớn. Báo chí trong nước nhiều lần nói về các quan chức làm chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN trên danh nghĩa và gọi họ là “cai đầu dài” trong khoa học, nhưng trong một số trường hợp cụ thể, số tiền có thể tham nhũng được chưa phải là quan trọng nhất bởi vì khoản kinh phí cấp cho các đề tài, dự án không đáng kể gì so với các khoản bổng lộc mà họ có thể tìm kiếm được qua các chức vụ của mình. Đề tài, dự án ấy chỉ có ý nghĩa "trang sức" cho chức vụ, hơn nữa là cơ sở để tính điểm phong giáo sư và phó giáo sư...
[2]. Các chức danh này có thể kéo dài thời gian công tác, quản lý đơn vị nếu được đơn vị "mời" và có nhu cầu. Đó cũng là nguyên nhân sâu xa của hiện tượng các nhà khoa học tìm mọi cách để kiếm được đề tài cấp càng cao càng tốt.
Cơ chế hiện nay cũng cho thấy, đối với các hệ thống cơ quan quản lý nói chung và tổ chức KH&CN nói riêng, điều kiện bổ nhiệm đối với các chức vụ, vị trí lãnh đạo thường phải có học hàm, học vị nhất định (theo từng cơ quan, tổ chức và vị trí cụ thể). Ví dụ, ngành nội vụ hiện nay đang dự thảo quy định một trong những tiêu chuẩn xét bổ nhiệm lãnh đạo các sở là phải có bằng tiến sỹ
[3]. Cơ chế này về nguyên tắc là phù hợp bởi những vị trí, trọng trách nhất định đòi hỏi phải có trình độ và những kiến thức tương ứng. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra một áp lực trong việc phấn đấu của cán bộ. Trong một số trường hợp, áp lực ấy cũng là tiền đề để nảy sinh tiêu cực.
Đã có hiện tượng một số nhà khoa học đã bỏ phần lớn thì giờ để tìm kiếm các đề tài cấp càng cao, kinh phí càng nhiều càng tốt với mục đích lấy đó làm chi phí để mua thiết bị chủ yếu phục vụ cá nhân, nhận nhiều nghiên cứu sinh để thực hiện một số nội dung nghiên cứu trong đề tài, "sản xuất" các bài báo đăng trên các tạp chí với "chỉ số ảnh hưởng" càng cao càng tốt. Kết quả thực hiện và số lượng các bài báo lại được dùng như một thành tích để tiếp tục xin kinh phí cho các đề tài, dự án khác, tạo thành một vòng luân chuyển trong suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học. Cứ như thế, con đường thăng chức càng rộng mở, danh tiếng càng bay xa
[4]
Có thể khái quát mối liên quan của các yếu tố vụ lợi trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN như sau: Tham nhũng để có lợi ích vật chất (tiền, tài sản…); có danh (điều kiện nâng cao học hàm, học vị, khen thưởng, thuận lợi để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ khác…). Khi có danh thì có điều kiện để được bổ nhiệm, đề bạt (quyền lực hành chính). Khi có quyền lại có cơ hội để tham nhũng "vật chất" và "danh". Tất nhiên nói như vậy không có nghĩa là mục đích của các hành vi tham nhũng trong nghiên cứu khoa học đều hướng tới tất cả các lợi ích nêu trên. Có thể một hành vi chỉ nhằm hướng tới 1 hoặc 2 hình thức lợi ích nhất định. Tuy nhiên, các yếu tố lợi ích đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau, được hình thành bởi hệ thống cơ chế quản lý mà không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của chủ thể. Do vậy yếu tố "lợi" của tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nên được xem xét và nhận định là lợi ích kép.
Đặc điểm về phạm vi, mức độ
Tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có phạm vi hẹp, ít tạo ra bức xúc trực tiếp cho xã hội và khó bị phát hiện.
Pháp lệnh Chống tham nhũng đã được ban hành từ 1998 và đến nay hệ thống pháp luật về vấn đề này không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Trên thực tế, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn diễn ra sôi động, quyết liệt. Rất nhiều hiện tượng, vụ việc tham nhũng trên các lĩnh vực, ở nhiều địa phương, với mọi cấp, mọi mức độ và trong các giai đoạn khác nhau đã bị phát hiện và xử lý. Thậm chí những năm gần đây, hệ thống các cơ quan chức năng và phương tiện thông tin đại chúng đã hàng ngày, hàng giờ đưa tin về vấn đề này. Tuy nhiên, trong lĩnh vực khoa học nói chung và trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nói riêng, tháng 3/2009 là lần đầu tiên từ trước đến nay một vụ việc tham nhũng mới bị phát hiện ở Viện Thú y Trung ương (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
Mặc dù vụ việc rất nghiêm trọng nếu xét dưới góc độ tham nhũng trong nghiên cứu khoa học, gây thiệt hại về vật chất khá lớn (gần 6 tỷ đồng) nhưng chỉ có một vài tờ báo đưa tin trong thời gian ngắn, và theo đánh giá của một số cán bộ trong lĩnh vực an ninh văn hoá thì dư luận xã hội ít bức xúc hơn đối với vụ việc này. Nếu so sánh với một số trường hợp tiêu cực khác như việc cô giáo bớt xén khẩu phần ăn của các cháu học sinh mẫu giáo, hay vụ một số cán bộ đoàn thanh niên dùng tiền đoàn viên ủng hộ đồng bào bị bão lũ để ăn nhậu, hoặc gần đây nhất là một tổ chức công đoàn đã bớt xén tiền ăn Tết của công nhân… thì rõ ràng dư luận xã hội bức xúc hơn nhiều so với vụ việc tham nhũng trong KH&CN, mặc dù thiệt hại về kinh tế của các vụ việc đó thấp hơn nhiều lần. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN ít tạo ra bức xúc trực tiếp cho xã hội vì có phạm vi hẹp, khó bị phát hiện.
Tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có phạm vi hẹp và khó bị phát hiện bởi nó có chủ thể, đối tượng và phạm vi thực hiện đặc biệt.
Chủ thể thực hiện đặc biệt ở chỗ phải là những người có trình độ học vấn cao, những tổ chức bao gồm nhiều người có trình độ học vấn cao thể hiện thông qua học hàm, học vị và chức vụ nghiên cứu...
Đối tượng thực hiện đặc biệt ở chỗ, đó chủ yếu là các nhiệm vụ KH&CN của nhà nước, kinh phí do ngân sách nhà nước cấp. Đồng thời, do tính chất đặc thù nên việc nghiên cứu được chấp nhận rủi ro (thất bại), hiệu quả mang lại ít nhận thấy rõ và có "độ trễ" nhất định…
Bởi vì, không giống như hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường với những sản phẩm vật chất cụ thể mà người dân có thể sử dụng được trong cuộc sống hàng ngày, sản phẩm của nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản thường mang tính trừu tượng, ít "gần gũi", trực tiếp với người tiêu dùng. Trong nhiều trường hợp, thành tựu của nghiên cứu khoa học chỉ thấy được sau khi công trình nghiên cứu đã kết thúc hàng chục năm.
Đối với nhiều nhiệm vụ KH&CN mà kết quả được chuyển giao vào đời sống sản xuất thì tổ chức, cá nhân được tiếp nhận thường chỉ đơn thuần đứng trên quan điểm "dân đang nghèo, thiếu mọi thứ" nên "được cái gì thì quý cái đó", nhưng đáng lẽ người dân phải được hưởng nhiều hơn nữa. Nhận định về vai trò giám sát của nhân dân đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học - yếu tố quan trọng nhất trong phòng, chống tham nhũng - Giám đốc Sở KH&CN của một tỉnh và một vị phó giáo sư chuyên ngành nông nghiệp đã nhận xét rằng, người dân khó có đủ điều kiện, khả năng, trình độ để tiếp cận. Thậm chí, có ý kiến còn ví "nghiên cứu KH&CN là sân chơi riêng của giới trí thức". Hơn nữa, tính đặc thù trong hoạt động nghiên cứu như tiềm ẩn rủi ro, hiệu quả ít nhận thấy rõ… cũng thường được chủ thể tham nhũng dựa vào đó để biện minh cho các vi phạm cụ thể. Do đó có thể nói, tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có phạm vi hẹp, ít tạo ra bức xúc trực tiếp cho xã hội và khó bị phát hiện.
Các đặc điểm nêu trên được hình thành và phụ thuộc vào yếu tố cơ chế quản lý. Vì vậy, thay đổi tư duy và điều chỉnh cơ chế quản lý KH&CN cho phù hợp với điều kiện thực tế, trả lại cho nghiên cứu khoa học đặc tính tự do sáng tạo nhưng đồng thời hạn chế được những kẽ hở dễ bị lợi dụng của đặc tính ấy tạo ra là đường hướng khả thi để phòng, chống tham nhũng trong nghiên cứu khoa học, để KH&CN sẽ thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội./.
[1] Vũ Cao Đàm (2009), "Đẳng cấp hành chính trong tổ chức và hoạt động khoa học",
Tạp chí Hoạt động khoa học, tháng 4/2009.
[2] http://dongtac.net/spip.php?article1281
[3] Vũ Cao Đàm (2009), "Đặt chuẩn mực hành chính vào hoạt động khoa học",
Tạp chí Tia sáng, tháng 5/2009
[4] Trương Văn Tân (2009) Tri thức và thực tiễn trong nghiên cứu khoa học,
Trang web www.diendan.org, ngày 05/6/2009
Cộng tác viên: Nguyễn Hữu Quân
Thanh tra viên - Thanh tra Bộ KH&CN
(Nguồn Tạp chí Thanh tra)